Sau chương trình Leader Talk #14: Chữ Tâm và Tầm của người Lãnh đạo - Khách mời: GS Đặng Hùng Võ, PV Chúng ta đã thực hiện bài phỏng vấn với vị khách mời. Nội dung có sử dụng một số chia sẻ của GS trong chương trình Leader Talk, với nhiều ví dụ thực tế về khả năng dự báo của ông khi triển khai GPS trong đo đạc địa chính, nhận định của giáo sư Võ về tính quyết đoán, sự linh hoạt giữa Cương và Nhu trong vai trò lãnh đạo v.v..
Xin đưa lại thông tin tổng hợp từ các nội dung phỏng vấn này.
Đặng Hùng Võ: Không chết thì không sợ
- Trong buổi chia sẻ tại chương trình Leader Talk về chủ đề Tâm và Tầm của người lãnh đạo, diễn ra vào chiều ngày 8/12 vừa qua, Giáo sư đã nhắc đến việc mang GPS về Việt Nam là dự án khiến Giáo sư tâm đắc nhất. Giáo sư có thể cho biết thêm về dự án này?
- Tôi tâm đắc với GPS vì đó là một kỷ niệm về hoạt động khoa học đáng nhớ. Năm 1988, khi từ nước ngoài về, tôi suy nghĩ rằng, GPS sẽ là công nghệ của tương lai, có thể làm thay đổi nhiều chuyện. Khi đó, công nghệ GPS mới được đưa vào sử dụng ở một vài nước phát triển. Tôi đã đệ trình lên Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước về chương trình nghiên cứu công nghệ này. Không ai tin rằng vệ tinh bay nhanh thế có thể đo được tọa độ mặt đất tới 10 milimet. Thế là mình phải tự bỏ tiền ra mua để nghiên cứu nhưng cũng được Bộ Kế hoạch và Đầu tư hứa nếu nghiên cứu thành công thì sẽ đầu tư. Tôi cương quyết làm và sau hơn một năm thì thành công.
Công việc đo đạc tọa độ lúc đó vẫn dựa vào máy quang học, muốn đo phải nhìn thấy nhau từ 10-20 km. Người ta phải phát cây, dựng tiêu cao cả chục mét mới thấy được nhau. Vào những ngày đầu đổi mới, lương bổng thấp lắm, đời sống công nhân rất chật vật. Những công nhân đo đạc hay "kiếm thêm" bằng cách khai tăng số cây bị chặt và tiêu cao thêm vài mét nữa. Sử dụng công nghệ GPS thì không phải dựng tiêu, cũng không phải chặt cây.
Công nhân đo đạc lo lắng vì mất “nghiệp” đến nơi nên họ phản đối rất mạnh nhưng tôi vẫn cương quyết làm. Rồi một hôm, có anh lãnh đạo phòng kỹ thuật của Cục tới gặp tôi nói rằng nên dẹp cái GPS đó đi, không thì phiền phức đấy. Tôi hỏi: “Thế phiền phức có đến mức phải chết không?”. Anh ta nói: “Không đến mức phải chết”. Tôi nói: “Không chết thì không sợ".
Đến nay, tất cả các đơn vị đo đạc lớn nhỏ, kể cả tư nhân cũng dùng GPS, còn máy quang học đã bị quẳng đi từ lâu rồi.

Giáo sư Đặng Hùng Võ tại chương trình Leader Talk
- Giáo sư có nói đến việc chính phủ là khách hàng lớn nhất của doanh nghiệp và nếu muốn ngành CNTT phát triển thì chính phủ phải đưa các ứng dụng đó vào các chương trình của mình. Hiện nay, với riêng ngành quy hoạch, theo Giáo sư, có thể ứng dụng CNTT vào những phần việc nào và ứng dụng như thế nào?
- Về công nghệ trong thời gian gần đây, các chuyên gia đều nói rằng chính sách của Chính phủ là một nhân tố rất quan trọng để tạo cú hích cho phát triển. Có thể đó là chính sách ưu đãi cho những ai làm công nghệ, có thể kích cầu bằng mua sắm của Chính phủ. Ví dụ, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã có 3 quyết định rất quan trọng làm cho công nghệ thông tin phát triển rất mạnh.
Thứ nhất, ông đã ký sắc lệnh xóa "mã nhiễu" (do quân sự đặt ra để làm giảm hiệu quả sử dụng ngoài mục đích quân sự) của vệ tinh GPS (định vị toàn cầu) để nâng cao độ chính xác định vị cho sử dụng vào mục đích dân sự, từ đó thị trường GPS phát triển rất mạnh.
Thứ hai, ông đã ký lệnh yêu cầu mọi quy hoạch phải được phân tích phương án trong hệ thống thông tin địa lý (GIS), từ đó thị trường GIS phát triển rất mạnh.
Thứ ba, ông cũng là người ký sắc lệnh về phát triển các thông tin địa lý trên cơ sở tích hợp nhiều yếu tố thành Hạ tầng thông tin không gian quốc gia (NSDI) gồm dữ liệu, công nghệ, con người, tổ chức, chính sách, dịch vụ, từ đó thị trường thông tin địa lý phát triển rất nhanh.
Việc ứng dựng công nghệ thông tin vào làm quy hoạch đã trở thành chuyện hàng ngày ở các nước phát triển. Người ta lập mô hình vùng quy hoạch với những thông tin rất chi tiết gắn với bề mặt đất, trong lòng đất, trên không và gọi là mô hình bề mặt đất thực ở đó. Sau đó đưa mô hình này vào quản lý trong một hệ thống thông tin địa lý.
Các chương trình máy tính về phân tích không gian tác động vào mô hình để phân tích các phương án bố trí, sử dụng bề mặt đất khác nhau, phân tích các tác động (hệ quả) để từ đó lựa chọn phương án sao cho hàm mục tiêu ở vị trí cực trị. Hàm mục tiêu hiện nay vẫn được chọn là véc tơ hàm có 3 thành phần là: Kinh tế, xã hội và môi trường. Từ đây, lại phải chuyển véc tơ hàm này về hàm thực để xếp được thứ tự mà so sánh. Cách xếp tùy thuộc vào ý định của con người xem trong vùng quy hoạch đó nên nặng về kinh tế hay xã hội hay môi trường.
- Trong câu chuyện về “Lệ làng”, Giáo sư có nhắc đến việc “Mua lều được đất”. Câu chuyện này cụ thể như thế nào, thưa Giáo sư?
- Khi tôi mới từ nước ngoài về, cũng có chút ít tiền, nên muốn mua một chỗ đất để làm nhà cho rộng rãi một chút. Nhờ giới thiệu nên cũng nhắm được một chỗ vừa ý.
Vào năm 1988, Luật Đất đai lần thứ nhất mới ban hành được một năm, trong đó vẫn quy định đất không có giá, mọi người không được chuyển nhượng đất đai. Ai có nhu cầu thì được mua nhà trên đất và đất đương nhiên là đi theo nhà. Giá tính với nhau cũng chỉ là giá nhà, không có giá đất. Người dân tính với nhau mua đất nhưng vẫn nói ra mồm rằng mua nhà.
Nghe giải thích mà cũng chẳng hiểu là mấy, tôi đành lên Sở Nhà đất để hỏi. May mắn gặp được sinh viên cũ đang làm việc ở đó. Tôi được chỉ bảo tận tình rằng: Pháp luật của ta không cho mua đất nên thầy phải làm một cái lều trên đất, rồi thầy làm hợp đồng mua cái nhà đó (tức là cái lều), em phê cho thầy vào đó là cho phép mua, thế là thầy có đất. Ai ngờ sự đời lại lắt léo đến thế. Tôi mới ngộ ra rằng quy định là vậy nhưng người dân vẫn có thể lách qua mà không vi phạm pháp luật.
- Trong khi Nhà nước nói "Đưa pháp luật vào cuộc sống" thì Giáo sư lại khẳng định rằng cần "Đưa cuộc sống vào pháp luật". Mong Giáo sư lý giải về điều này?
- Chuyện đất và lều ở trên đã nói lên rằng người dân có cách hành xử không theo pháp luật, nếu pháp luật không phù hợp với cuộc sống. Ví dụ thứ hai cũng rất sinh động. Trước đây, chúng ta không cho chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nhà nước tăng thuế chuyển quyền lên mức 20% để dân sợ mà không chuyển nhượng nữa. Trên thực tế, người dân lách luật bằng cách viết giấy tay với nhau để tránh nộp thuế. Ai hỏi người mới tới ở thì họ nói rằng đang ở nhờ, vì pháp luật không cấm ở nhờ.
Vài năm trước đây có phóng viên phỏng vấn tôi đã đặt câu hỏi về kết quả thực hiện khẩu hiệu "Đưa pháp luật vào cuộc sống". Tôi nói rằng tôi đang quan tâm tới khẩu hiệu "Đưa cuộc sống vào pháp luật". Chúng tôi cố gắng nhiều nhưng e rằng cũng còn nhiều chỗ khiếm khuyết. Cuộc sống có quy luật riêng mà người xây dựng pháp luật phải hiểu được cuộc sống để pháp luật chứa được tính hợp lý của cuộc sống. Pháp luật không chứa được các quy luật của cuộc sống thì người dân sẽ tìm cách để lách luật mà vẫn không vi phạm.
Gần đây, trong một cuộc hội thảo, có đại biểu đến nói với tôi rằng trước đây anh được cấp trên giao cho nhiệm vụ nghiên cứu và bình luận về câu nói: "Trước hết phải đưa cuộc sống vào pháp luật" của tôi. Sau khi nghiên cứu anh đã báo cáo rằng tôi đúng. Đấy cũng là một kỷ niệm vui trong đời.
Cần có tâm và tài để dùng đúng người
Tại buổi chia sẻ, Giáo sư có nói tới cặp phạm trù Cương - Nhu. Giáo sư có thể chia sẻ về quá trình hình thành nhận thức này?
- Đó là một cặp phạm trù trong triết học phương Đông, biến đổi qua lại với nhau, trong cương có nhu và trong nhu có cương. Về mặt nhận thức, trước hết phải biết chế ngự mình. Đừng đặt mình vào trọng tâm của câu chuyện và phải biết quên bản thân. Đứng ngoài mà nhìn thì rõ đâu là cương và đâu là nhu. Tôi ngộ được điều này một phần từ cuộc sống, rồi đọc sách mà nhận thức được nâng lên. Rồi cuộc sống lại dạy cho mình thêm chút nữa để nghiệm lại nhận thức.
Tôi nhớ là mình đã hình dung được đôi chút về Cương - Nhu từ khi mới học lớp 3. Hồi đó, tôi “nhỏ con” lắm, thấp và gầy nhất lớp. Đường đi học cũng xa nên hay bị các bạn lớn xác hơn bắt nạt. Vậy là mình phải tính. Học ở lớp nên nhận biết được tính từng bạn qua lúc thầy cô hỏi bài. Cậu nào mạnh mồm nhưng non gan thì biết, ai lì lợm nhưng dám làm cũng rõ. Vậy là khi bị cậu non gan bắt nạt thì mình cương lên là đâu vào đấy. Còn nếu cậu lì lợm bắt nạt thì mình lại phải đánh bài nhu cho êm chuyện, mà nhu nhất là tìm cách "tẩu vi thượng sách".
Sau này khi đi làm, cặp Cương - Nhu thường được cân nhắc khi phải gặp thủ trưởng cơ quan. Tùy mặt mà áp dụng. Kinh nghiệm cho thấy, cương cũng đừng quá mức dễ "đứt", mà nhu cũng đừng quá mức thành "hèn".
- Giáo sư vận dụng Cương - Nhu như thế nào cho tình huống cám dỗ về tiền?
- Theo tôi, với tiền thì không cần đến Cương - Nhu vì vốn tiền luôn luôn nhu. Chỉ khi mình bị tiền chi phối thì nó mới trở thành cương. Như vậy, cần đặt ra nguyên tắc, mình phải luôn là chính mình. Mình phải được tự do để tránh sự cám dỗ của tiền, thế là mình không cho tiền chuyển từ nhu sang cương. Đối với tôi việc này nhẹ nhàng lắm, xác định rõ nguyên tắc sống là xong.
Tôi có một nguyên tắc sống nữa là mình có thể bị khổ nhưng đừng bao giờ để bị đói. Cái đói nó có thể làm mình trở nên rất xấu vì lúc quá đói người ta khó giữ được mình. Các cụ ngày xưa đã dạy rằng: "Đói ăn vụng, túng làm càn". Hãy tránh đi những hoàn cảnh cơ hàn ấy, khó giữ mình lắm.
- Giáo sư đã khi nào ân hận về những việc làm ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân?
- Khi ở vị trí lãnh đạo, người ta khi thường hay nghĩ xem kế nào để "giữ ghế" được bền, cứ thế mà tiến lên. Vấn đề tôi cân nhắc nhiều nhất là phải lựa chọn cách thức làm việc khi ở một vị trí công tác. Phương án một là lăn vào việc, dấn thân, không quản ngại thiệt thòi để làm cho hết mình, tốt hơn cho đa số mọi người. Phương án hai là làm ít nhất nhưng nói dễ nghe để ít bị sai, thủ trưởng êm tai, cơ hội nhiều hơn. Dân gian vẫn nói rằng: "Làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, mà không làm thì không sai" là vậy. Tôi luôn luôn chọn phương án một.
Có nhiều trường hợp phải trả lời địa phương, người dân bằng văn bản về những sự việc đất đai rất phức tạp. Chắc chắn không trả lời là an toàn hơn, tránh khả năng bị sai và pháp luật cũng không bắt cấp Bộ phải trả lời các việc cụ thể. Nhưng tôi vẫn lựa chọn cách trả lời vì trách nhiệm với dân, mặc dù biết rằng pháp luật về đất đai của nước ta qua nhiều thời kỳ như một "trận đồ bát quái". Cũng có lúc tôi bị rơi vào trường hợp quá phức tạp, báo chí đã nêu tên với các dấu hỏi nghi ngờ tham nhũng, cũng phải giải trình với cảnh sát điều tra. Nhiều người trong nhà nói rằng phải "chạy", tôi bảo không phải "chạy" gì cả mặc dù biết rằng oan khuất cũng còn nhiều. Rồi ở hiền vẫn gặp lành, không bị hàm oan.
Đến nay nhìn lại, thiệt thòi nhiều hay ít thì ai mà đo đếm được. Tôi không nghĩ về chuyện đó. Chỉ biết rằng mình không thấy ân hận điều gì.
-Giáo sư có nói đến thuật dụng nhân. Xin Giáo sư chia sẻ kinh nghiệm về vấn đề này?
- Dụng nhân là thuật mà cổ nhân đã bàn đến rất nhiều. Chữ "Tâm" và chữ "Tài" cũng được mổ xẻ khá kỹ. Cụ Nguyễn Du cho rằng chữ "Tâm" phải bằng ba lần chữ "Tài". Phương Tây lại chỉ quan tâm tới chữ "Tài" mà không mấy để ý đến "Tâm". Tôi cho rằng, điều quan trọng nhất là xác định được mức độ "tài" và "tâm" của từng người cụ thể để sử dụng vào một việc cụ thể. Đó chính là thuật dụng nhân.
Cổ nhân nói rằng "dụng nhân như dụng mộc", tức là phải ngắm cây gỗ, biết chỗ khuyết tật ở đâu để có thể khoét bỏ chỗ đó. Đối với con người, khi biết người có tính tham thì không nên bố trí làm tài chính. Điều này đã được đại văn hào, triết gia người Pháp Voltaire đưa ra trong câu chuyện "Chiếc hàng lang cám dỗ": Nhà vua muốn chọn người phụ trách tài chính đã mở tiệc, mà đến phòng tiệc phải đi qua một hành lang dài với đầy dẫy châu báu. Sau đó, nhà vua chọn người nào lúc khiêu vũ sau tiệc có điệu nhảy thanh thoát nhất. Tất nhiên, nhận biết con người theo cách ấy thì tốn kém lắm, ta khó mà theo được.
- Theo ông, khó khăn và thuận lợi của một nhà nghiên cứu khoa học khi tham gia vào công tác lãnh đạo là gì?
- Theo tôi, làm lãnh đạo cần có một số tố chất riêng như phải biết dự báo, nhận định, thuyết phục, hướng dẫn, đoàn kết và phải biết lo trước mọi người, vui sau mọi người. Vậy nhà khoa học có những tố chất đó thì nên bố trí làm lãnh đạo. Nhà khoa học có tâm sáng làm lãnh đạo sẽ đưa được các phương pháp tư duy khoa học vào quản lý, hiệu quả hơn. Về khó khăn, cũng chính những tư duy khoa học dễ làm cho cách xử lý theo cương nhiều hơn theo nhu. Thứ nữa, các nhà khoa học thường được trưởng thành trong một môi trường đồng đều về nhận thức, sẽ bỡ ngỡ trước một cộng đồng có nhận thức đa tầng.
- Cảm nhận của Giáo sư về buổi giao lưu và con người FPT sau buổi chia sẻ tối 8/12 vừa qua?
- Buổi giao lưu với FPT đã để lại trong tôi một kỷ niệm đẹp. Người FPT lịch sự, hiểu biết và cũng thể hiện khá nhiều kinh nghiệm sống. Những người đưa khoa học, công nghệ vào thương trường cũng có tư duy khác. Vẫn còn chất khoa học nhưng từng trải hơn. Những câu hỏi, những nét mặt, những sự tán đồng đã nói lên điều đó.
- Nếu lần tới đến FPT, ông dự định nói về chủ đề gì?
- Tôi cho rằng đề tài về "Vai trò con người trong phát triển" có vẻ như hợp với FPT. Việt Nam cũng chưa động viên được nguồn lực con người để tạo động lực phát triển. Hay có thể là một chủ đề khác mà FPT đặt hàng trước cũng được.
Tổng hợp từ Chúng ta